Skip to content
Opens in a new window
Listen to this chapter • 4:11

[1] Ngươi có biết mùa sơn dương sinh nở, có nhìn thấy nai mẹ đẻ con ?

[2] Ngươi có biết chúng mang thai mấy tháng, và biết được mùa chúng sinh nở ?

[3] Chúng ngồi xổm, sinh một bầy con, trút bỏ cơn đau đớn.

[4] Bầy con mạnh mẽ, lớn lên giữa đồng hoang, rồi bỏ bầy, không trở về với mẹ.

[5] Ai đã trả tự do cho ngựa vằn, ai đã cởi dây cột lừa hoang ?

[6] Chính Ta ban cho nó sa mạc khô cằn làm nhà ở, đồng chua nước mặn làm chỗ dung thân.

[7] Nó chế nhạo nơi phố phường huyên náo, chẳng nghe lời quát tháo của người cai.

[8] Nó rảo khắp núi đồi, nơi nó đang sinh sống để tìm kiếm cỏ non.

[9] Liệu trâu rừng có muốn phục vụ ngươi, có chịu qua đêm bên máng cỏ ngươi làm ?

[10] Liệu ngươi có buộc được dây vào cổ nó mà bắt nó đi cày, và liệu nó có chịu đi theo ngươi cày bừa dưới thung lũng ?

[11] Liệu ngươi có tin nó vì sức nó mạnh, để giao cho nó những công việc nặng nề ?

[12] Ngươi có nghĩ rằng nó sẽ trở lại và đem lúa về sân phơi của ngươi không ?

[13] Cánh đà điểu vỗ nhanh, nhưng không sao sánh nổi với cánh loài chim hạc, chim ưng.

[14] Khi nó bỏ trứng lại trên đất, phó mặc cho cát bụi nóng ran,

[15] mà quên rằng có thể có bàn chân giẫm nát, hay một con thú rừng giày đạp.

[16] Nó xử tệ với con, như chúng không phải là con của mình ; có vất vả luống công, nó cũng không tiếc nuối.

[17] Vì Thiên Chúa không chịu ban cho nó khôn ngoan, và không chia cho nó phần trí tuệ.

[18] Nhưng đến hồi cất cánh tung bay, nó coi thường ngựa phi và người cưỡi.

[19] Có phải ngươi làm cho ngựa được mạnh sức choàng lên cổ nó một cái bờm

[20] làm cho nó nhảy được như châu chấu ? Tiếng nó hí vang, gây kinh hoàng táng đởm.

[21] Nó lấy chân bới đất, tự hào vì sức mạnh, nhắm phía trước lao mình, chẳng màng chi vũ khí.

[22] Nó coi thường sợ hãi, bất chấp cả khiếp kinh, trước mũi gươm, nhất định không lùi bước.

[23] Trên đầu nó, tên bay vùn vụt, giáo và lao sáng quắc.

[24] Giận điên lên, nó nuốt chửng không gian, nghe tiếng kèn thúc quân, nó không cầm mình nổi.

[25] Mỗi lần kèn thúc, nó kêu : A ha ! Từ đàng xa, nó đã đánh hơi được mùi chinh chiến, nghe được tiếng tướng lãnh quát vang và tiếng hò xung trận.

[26] Có phải nhờ trí tuệ của ngươi mà bồ câu bay được, sải cánh hướng về phương nam ?

[27] Có phải vì ngươi ra lệnh mà chim bằng bay lên tìm nơi cao chót vót mà làm tổ ?

[28] Nó chọn hang hốc làm nơi ẩn mình và nghỉ đêm trong khe núi đá.

[29] Từ chỏm núi cao, nó rình mồi, đôi mắt nhìn ra xa.

[30] Bầy con của nó uống máu đến say sưa ; xác chết ở đâu là nó ở đó.

Sách Gióp — Chapters