Skip to content
Opens in a new window
Listen to this chapter • 7:20

[1] Khi Chúa đã hay rằng người Pha-ri-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp-têm được nhiều môn-đồ hơn Giăng,

[2] (kỳ thiệt không phải chính Đức Chúa Jêsus làm phép báp-têm, nhưng là môn-đồ Ngài),

[3] thì Ngài lìa xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.

[4] Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri.

[5] Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần đồng-ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình.

[6] Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Nhân đi đàng mỏi-mệt, Đức Chúa Jêsus ngồi gần bên giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu.

[7] Một người đàn-bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống.

[8] Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ-ăn.

[9] Người đàn-bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủa kìa! Ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn-bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao-thiệp với dân Sa-ma-ri.)

[10] Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban-cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.

[11] Người đàn-bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy?

[12] Tổ-phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?

[13] Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi;

[14] nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.

[15] Người đàn-bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.

[16] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây.

[17] Người đàn-bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm;

[18] vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy.

[19] Người đàn-bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên-tri.

[20] Tổ-phụ chúng tôi đã thờ-lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ-lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem.

[21] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn-bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ-lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem.

[22] Các ngươi thờ-lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ-lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu-rỗi bởi người Giu-đa mà đến.

[23] Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ-phượng thật lấy tâm-thần và lẽ thật mà thờ-phượng Cha: Ấy đó là những kẻ thờ-phượng mà Cha ưa-thích vậy.

[24] Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ-lạy Ngài thì phải lấy tâm-thần và lẽ thật mà thờ-lạy.

[25] Người đàn-bà thưa: Tôi biết rằng Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.

[26] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.

[27] Khi đó, môn-đồ tới, đều sững-sờ về Ngài nói với một người đàn-bà; nhưng chẳng ai hỏi rằng: Thầy hỏi người ấy điều chi? Hay là: Sao thầy nói với người?

[28] Người đàn-bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng:

[29] Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao?

[30] Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jêsus.

[31] Song le, môn-đồ nài-nỉ một bên Ngài mà rằng: Thưa thầy, xin hãy ăn.

[32] Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương-thực để nuôi mình mà các ngươi không biết.

[33] Vậy môn-đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi cho thầy ăn chăng?

[34] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ-ăn của ta tức là làm theo ý‑muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công-việc Ngài.

[35] Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng-ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt.

[36] Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu-chứa hoa-lợi cho sự sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui-vẻ.

[37] Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải.

[38] Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm; kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công-lao của họ.

[39] Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cớ lời đàn-bà đã làm chứng về Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm.

[40] Vậy, các người Sa-ma-ri đã đến cùng Ngài, xin Ngài vào trọ nơi mình; Ngài bèn ở lại đó hai ngày.

[41] Khi đã nghe lời Ngài rồi, người tin Ngài càng đông hơn nữa.

[42] Họ nói với người đàn-bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu-Chúa của thế-gian.

[43] Khỏi hai ngày ấy, Đức Chúa Jêsus từ đó đi qua xứ Ga-li-lê

[44] (vì chính Ngài đã phán rằng một người tiên-tri chẳng bao giờ được tôn-kính trong quê-hương mình).

[45] Khi đã đến xứ Ga-li-lê, Ngài được dân xứ ấy tiếp-rước tử-tế, bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ; vì họ cũng có đi dự lễ.

[46] Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên ở tại thành Ca-bê-na-um, có một quan thị-vệ kia, con trai người mắc bệnh.

[47] Quan đó nghe Đức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến và xin Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết.

[48] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!

[49] Quan thị-vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi con tôi chưa chết!

[50] Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi sống. Người đó tin lời Đức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi.

[51] Người đang đi dọc đàng, các đầy-tớ người đến đón mà rằng. Con trai chủ sống.

[52] Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ trả lời rằng: Bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi.

[53] Người cha nhận biết rằng ấy là chính giờ đó Đức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng: Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin.

[54] Ấy là phép lạ thứ hai mà Đức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.

Giăng — Chapters