Skip to content
Opens in a new window
Listen to this chapter • 11:31

[1] Thi khúc. Của ông A-xáp. Dân tôi hỡi, này nghe tôi dạy bảo, lắng tai đón nhận lời lẽ miệng tôi.

[2] Mở miệng ra, tôi sẽ nói đôi lời huấn dụ, công bố điều huyền bí thuở xa xưa.

[3] Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình,

[4] chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau : sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của CHÚA, với những kỳ công Chúa đã làm.

[5] Người đã ban huấn lệnh cho nhà Gia-cóp, đặt ra lề luật cho Ít-ra-en, dạy tổ tiên chúng tôi truyền lại cho con cháu các cụ được tường,

[6] hầu thế hệ tương lai kẻ hậu sinh cũng biết, rồi mai ngày đến lượt kể cho con cháu mình.

[7] Như vậy, chúng sẽ đặt niềm tin vào Thiên Chúa, không lãng quên những việc Chúa làm và tuân giữ lệnh Người truyền dạy :

[8] Đừng như thể cha ông, nòi ngoan cố phản loạn, nòi tâm địa thất thường, dạ bất trung cùng Chúa.

[9] Người chi tộc Ép-ra-im rành nghề cung nỏ, ngày giao chiến đành phải tháo lui ;

[10] họ không giữ giao ước với Chúa Trời, và chẳng chịu sống theo luật Chúa ;

[11] đã quên đi những việc Người làm những kỳ công Người đã cho chứng kiến.

[12] Trước mắt cha ông họ, Người đã làm bao việc lạ lùng tại cánh đồng Xô-an bên Ai-cập.

[13] Người rẽ Biển Đỏ cho họ vượt qua, dồn nước lại như tường thành sừng sững ;

[14] dùng cột mây hướng dẫn họ ban ngày và ban đêm lấy lửa hồng soi sáng.

[15] Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu, khiến nước tuôn tràn cho dân được uống,

[16] từ khe đá, Người khơi dòng suối chảy, nước đổ dạt dào như những con sông.

[17] Nhưng dân lại càng phạm tội mất lòng Chúa, phản nghịch cùng Đấng Tối Cao tại miền hoang địa ;

[18] họ chủ tâm thách thức cả Chúa Trời, đòi được ăn cho vừa sở thích.

[19] Họ kêu trách Thiên Chúa rằng trong sa mạc này, liệu Chúa Trời có thể dọn gì cho ta ăn ?

[20] Người đập vào tảng đá làm cho nước chảy ra như thác lũ lan tràn, nhưng liệu còn có thể cung cấp cho dân Người bánh và thịt nữa chăng ?

[21] Nghe thấy thế, CHÚA liền phẫn nộ, bừng lửa giận với nhà Gia-cóp, nổi trận lôi đình với Ít-ra-en,

[22] vì họ đã không tin ở Chúa Trời, chẳng cậy trông ơn Người cứu độ.

[23] Chúa hạ lệnh cho mây tầng cao thẳm, lại truyền mở rộng cánh thiên môn ;

[24] Người khiến man-na tựa hồ mưa đổ xuống, và ban bánh bởi trời nuôi dưỡng họ.

[25] Kẻ phàm nhân được ăn bánh thiên thần, Chúa gửi đến cho họ dồi dào lương thực.

[26] Trên trời cao, Người giục gió đông thổi tới, dùng sức mạnh đưa ngọn gió nam về.

[27] Người cho mưa thịt xuống nhiều như bụi, chim chóc ê hề như cát đại dương ;

[28] Người cho rớt vào ngay doanh trại, chung quanh lều dân ở.

[29] Họ được ăn, ăn thật no nê, thèm thứ gì, Người đãi cho thứ đó.

[30] Nhưng khi họ chưa kịp đã thèm, khi miếng ăn còn chưa kịp nuốt,

[31] thì cơn giận Chúa Trời đã bừng lên phạt họ. Chúa giết ngay những người khoẻ nhất Ít-ra-en. Chúa giết liền bọn trai trẻ ấy.

[32] Thế mà dân cứ phạm thêm bao tội lỗi, chẳng buồn tin việc lạ Chúa làm,

[33] nên kiếp sống họ, Người diệt đi trong khoảnh khắc, tuổi đời họ, Người chấm dứt thình lình.

[34] Khi Chúa giết họ, họ mới đi tìm Chúa, mới trở lại và mau mắn kiếm Người,

[35] mới nhớ rằng : Thiên Chúa là núi đá họ ẩn thân, Thiên Chúa Tối Cao là Đấng cứu chuộc họ.

[36] Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người ;

[37] còn lòng dạ chẳng chút gì gắn bó, chẳng trung thành giữ giao ước của Người.

[38] Nhưng Người vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.

[39] Chúa nhớ rằng : thân phận chúng : bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về.

[40] Trong sa mạc, bao lần dân làm phản, trêu giận Người giữa chốn hoang liêu.

[41] Khiêu khích Chúa, họ thử đi thách lại, làm cực lòng Đức Thánh của Ít-ra-en,

[42] không còn nhớ tay quyền năng của Chúa, quên ngày Chúa cứu khỏi ách quân thù.

[43] Khi Người tung ra những điềm thiêng bên Ai-cập và bao dấu lạ trong cánh đồng Xô-an.

[44] Kìa nước sông nước suối, Người biến ra máu hồng, khiến cho dân Ai-cập không thể nào uống nổi.

[45] Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang,

[46] cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng ;

[47] mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả,

[48] dịch tàn sát chiên dê, thời khí hại bò lừa.

[49] Người trút lửa giận lên đầu dân Ai-cập, nào lôi đình, nào thịnh nộ với gian truân, đó là cả một đạo hung thần.

[50] Người để cho cơn giận tung hoành mặc sức, sinh mạng chúng, Người chẳng dung tha, nhưng bắt phải chết vì dịch tễ.

[51] Người giết mọi con đầu lòng Ai-cập, là tinh hoa của dòng giống họ Kham.

[52] Còn dân Chúa, Người dẫn đi như thể đàn cừu, đem họ vào sa mạc chẳng khác bầy chiên,

[53] đưa họ đi an toàn, chẳng có chi phải sợ, nhưng quân thù họ bị biển khơi chôn vùi.

[54] Chúa đưa dân vào miền thánh địa là vùng núi non tay Người đã chiếm.

[55] Trước mặt họ, Người đuổi dân ngoại đi, đo đất chia làm phần gia sản, cấp cho mọi chi tộc Ít-ra-en, để họ tới dựng lều cư ngụ.

[56] Thế mà họ thử thách, phản lại Chúa Chí Tôn, lệnh Người đã ban truyền, họ chẳng tuân chẳng giữ.

[57] Họ xa lìa, phản bội, chẳng khác gì cha ông, luôn tráo trở thất thường như cánh cung sai chạy.

[58] Họ lập đàn thờ quấy mà trêu giận Chúa Trời, lại tôn sùng ngẫu tượng khiến Chúa phải ghen tuông.

[59] Nghe thấy thế, Người nổi cơn thịnh nộ, quyết tình ruồng rẫy Ít-ra-en,

[60] và từ bỏ ngôi đền Si-lô là lều Chúa ngự giữa loài người.

[61] Hòm Bia thánh tượng trưng uy quyền vinh quang Chúa, Người cũng để tay thù chiếm đoạt mang đi.

[62] Quá bất bình với dân được chọn làm gia sản Người phó mặc họ cho lưỡi gươm hung tàn.

[63] Lửa chiến chinh huỷ diệt đời trai tráng, thiếu nữ chẳng còn được nghe điệu vu quy !

[64] Hàng tư tế bị gươm đao sát hại, goá phụ thương chồng mà chẳng được khóc than !

[65] Bấy giờ Chúa như người đang ngủ, như tướng hùng đã thấm men say,

[66] bỗng tỉnh giấc, đánh cho quân thù quay lưng chạy, phải thảm thê nhục nhã muôn đời.

[67] Chúa loại bỏ nhà Giu-se, chi tộc Ép-ra-im, Người không tuyển chọn,

[68] nhưng tuyển chọn chi tộc Giu-đa và núi Xi-on, nơi Người ưa thích.

[69] Chúa xây thánh điện Người như trời xanh cao thẳm, và cũng như trái đất Người đặt vững muôn đời.

[70] Chúa chọn Đa-vít, tôi tớ Người, cất nhắc ông, thuở còn là mục tử, cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên,

[71] để chăn dắt dân Người là Gia-cóp, và Ít-ra-en sản nghiệp của Người.

[72] Ông chăn dắt họ với một lòng liêm chính, tay dẫn đưa khéo léo tài tình.

Sách Thánh Vịnh — Chapters